Trang nhất » Nông thông mới » Mô hình mới

Kinh nghiệm xây dựng nông thôn mới ở Thái Lan và Trung Quốc bài học đối với Việt Nam hiện nay

Thứ tư - 11/06/2014 09:31
Hình ảnh có tính chất minh họa

Hình ảnh có tính chất minh họa

Kinh nghiệm xây dựng nông thôn mới ở Thái Lan và Trung Quốc bài học đối với Việt Nam hiện nay
TS. Nguyễn Hoàng Sa
            Thái Lan và Trung Quốc là hai quốc gia có thế mạnh về nông nghiệp. Ở đây họ đang làm khá tốt các chính sách về xây dựng và phát triển nông thôn. Việc tham khảo các bài học kinh nghiệm của họ để vận dụng vào Việt Nam nói chung và An Giang nói riêng là rất quan trọng và bổ ích để thực hiện tốt đề án xây dựng nông thôn mới hiện nay. 
 
          1/ MỘT SỐ CHÍNH SÁCH XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN HIỆN NAY Ở THÁI LAN:
          Hiện nay người ta đang thực hiện các chính sách xây dựng và phát triển nông thôn một cách thiết thực như sau:
Thứ nhất là chính sách trợ giá nông sản. Ở Thái Lan đang thực hiện trợ giá cho nông dân trên các lĩnh vực nông sản chủ yếu như sau: gạo, cao su, trái cây, .v..v… Chính phủ Thái Lan đã mua giá gạo thơm 6.500baht/tấn trong khi giá thị trường chỉ 5.000 – 5.200baht/tấn. Việc trợ giá nông sản không chỉ thực hiện ở việc mua giá ưu đãi của nông dân mà nông dân trồng lúa còn được hưởng những ưu đãi khác như mua phân bón với giá thấp, miễn cước vận chuyển phân bón, được cung cấp giống mới có năng suất cao, được vay vốn lãi xuất thấp từ ngân hàng nông nghiệp .v..v… Ngoài ra, Thái Lan cũng có hỗ trợ về giá cho nông dân trồng 05 loại cây chủ lực là sầu riêng, nhãn, vải, măng cụt và chôm chôm. Thực hiện tốt chính sách hổ trợ này chính phủ Thái Lan đưa các chuyên viên cao cấp phụ trách chương trình với nhiệm vụ giám sát từ việc sản xuất, phân phối, chế biến, giá cả cho đến tìm thị trường xuất khẩu mới.
Thứ hai là chính sách công nghiệp nông thôn. Thái Lan vốn là nước nông nghiệp truyền thống với số dân nông thôn chiếm khoảng 80%. Do vậy, công nghiệp nông thôn được coi là nhân tố quan trọng giúp cho Thái Lan nâng cao chất lượng cuộc sống của nông dân.
             Để thực hiện nhiệm vụ này, chính phủ Thái Lan đã tập trung vào các công việc sau: cơ cấu lại ngành nghề phục vụ phát triển công nghiệp nông thôn, xem xét đầy đủ các nguồn tài nguyên, xem xét những kỹ năng truyền thống, nội lực tiềm năng trong lĩnh vực sản xuất và tiếp thị,… Cụ thể là Thái Lan đã tập trung phát triển các ngành mũi nhọn như sản xuất hàng nông thủy, hải sản phục vụ xuất khẩu và tiêu dùng trong nước.
            Công nghiệp chế biến thực phẩm Thái Lan phát triển mạnh nhờ một số chính sách sau:
     + Chính sách ưu tiên phát triển nông nghiệp với mục đích nâng cao chất lượng các mặt hàng nông sản gạo, dứa, tôm sú, cà phê bằng một chương trình “Mỗi làng một sản phẩm” (One tambon, One product – OTOP) tức là mỗi ngày làm ra một sản phẩm tiêu biểu, đặc trưng và có chất lượng cao. Trên thực tế chương trình này trung bình 06 tháng đem lại cho nông dân khoảng 84,2 triệu USD lợi nhuận. Bên cạnh chương trình trên chính phủ Thái Lan cũng thực hiện chương trình “Quỹ Làng” (Village Fund Progam) nghĩa là mỗi làng sẽ nhận được một triệu baht từ chính phủ để cho dân làng vay mượn. Trên thực tế đã có trên 75.000 ngôi làng ở Thái Lan được nhận khoản vay này.
             + Chính sách đảm bảo vệ sinh an toàn vệ sinh thực phẩm. Để thực hiện chính sách chính phủ Thái Lan đã phát động chương trình: “Thái Lan là bếp ăn của thế giới” với mục đích khuyến khích các nhà chế biến và nông dân có những hành động thiết thực có hiệu quả để kiểm soát chất lượng vệ sinh thực phẩm đảm bảo cho xuất khẩu và người tiêu dùng.
Thứ ba là: mở cửa thị trường thích hợp để thu hút đầu tư mạnh mẽ của nước ngoài cho nông nghiệp, đặc biệt là công nghiệp chế biến thực phẩm. Ở đây chính phủ Thái Lan đã có chính sách trợ cấp ban đầu cho các nhà máy chế biến và đầu tư trực tiếp vào các cơ sở hạ tầng như cảng, kho lạnh, sàn đấu giá và đầu tư vào nghiên cứu và phát triển; xúc tiến công nghiệp và phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ. Ở Thái Lan xúc tiến tiến công việc này là trách nhiệm của Cục xúc tiến Công nghiệp, Cục xúc tiến Nông nghiệp, Cục Hợp tác xã, Cục thủy sản, cơ quan tiêu chuẩn sản phẩm công nghiệp trực thuộc Bộ Công nghiệp và Bộ nông nghiệp.
Tóm lại chính sách xây dựng phát triển nông thôn ở Thái Lan là một loạt chính sách ra đời từ thách thức của nền nông nghiệp Thái Lan, đó là diện tích canh tác bị thu hẹp, nông dân bỏ ruộng vườn đi làm thuê, nông dân không được hưởng lợi từ các chính sách của chính phủ.
       Đây là chính sách nhằm “bắt bệnh” và tìm thuốc chữa xuất phát từ sự quan tâm của vua Thái Lan đến chính phủ và chính quyền của các địa phương. Các chính sách ấy đã kết hợp được kinh nghiệm truyền thống và công nghệ hiện đại đề từng bước làm cho suy nghĩ, nhận thức cùa người nông dân Thái Lan thay đổi, họ đã hiểu sản xuất nông nghiệp không chỉ để ăn mà còn để xuất khẩu. Từ đây họ đã chung sức, chung lòng phát triển nền nông nghiệp với tốc độ tăng trưởng nhanh, công nghệ cao và một số lĩnh vực đứng đầu thế giới.
 
 2/ MỘT SỐ CHÍNH SÁCH XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN Ở TRUNG QUỐC:
          Trung Quốc là một quốc gia có 7000 triệu nông dân chiếm 60% dân số cả nước. Trung Quốc đã từng trải qua một giai đoạn cực kỳ khó khăn đó là quá trình tích tụ ruộng đất để hiện đại hóa đã đẩy hàng triệu nông dân ra thành phố làm việc, ruộng đồng hoang hóa, các quan chức địa phương và giới thương nhân thường câu kết để chiếm ruộng đất nông nghiệp để xây cất nhà cửa hoặc biến thành khu công nghiệp. Do vậy, nông thôn Trung Quốc khi yên bình mà liên tục diễn ra biểu tình, gây rối, kiện cáo, bạo lực. Số liệu thống kê cho thấy hồi năm 2004 Trung Quốc có 74.000 vụ khiếu kiện tập thể thu hút gần 4 triệu người tham gia và 2005 số vụ là 84.000 và 2006 là 90.000 vụ. Trước tình hình đó ông Hongyuan giám đốc TT nghiên cứu kinh tế nông thôn, Bộ nông nghiệp Trung Quốc khẳng định: Nguyên nhân là do vi phạm quyền đất đai của người nông dân diễn ra thường xuyên khi chính quyền địa phương quyết định thay cho nông dân và vấn đề là phải có sự cải cách sửa đổi để bảo vệ quyền lợi đầy đủ cho người nông dân. Một số thay đổi mang tính chất đột phá trong chính sách đối với phát triển nông nghiệp và nông thôn ở Trung Quốc đã được thực hiện như sau:
          Thứ nhất, nhanh chóng giảm thuế để thu hút đầu tư vào nông nghiệp. Ở đây Trung Quốc đã thực thi chính sách miễn, giảm thuế nông nghiệp cho các doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp. Hiện Trung Quốc có trên 10.000 doanh nghiệp hoạt động ở nông thôn chiếm 30% tổng số doanh nghiệp cả nước. Thực tế hầu hết là doanh nghiệp vừa và nhỏ (gần bằng 10 tỷ doanh nghiệp), các doanh nghiệp có số vốn từ 200 tỷ trở lên chỉ chiếm 30%. Cách này đã vực dậy tình trạng thua lỗ của quá nhiều doang nghiệp đầu tư vào nông nghiệp và nông thôn.
          Để thu hút tốt chính sách này Trung Quốc đã thành lập nhiều đoàn kêu gọi xúc tiến đầu tư ở Nga, Nhật, Trung Quốc, Ấn Độ, EU,…. Hiện nay Bộ Nông nghiệp đã trình cho chính phủ đề án thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào nông nghiệp, nông thôn Trung Quốc đến 2015, trong đó chú trọng phát triển công nghệ sinh học để tạo ra giống cây trồng, vật nuôi có năng xuất chất lượng cao, áp dụng công nghệ chế biến bảo quản sau thu hoạch để nâng cao giá trị; an toàn vệ sinh của sản phẩm sau thu hoạch.
           Thứ hai, bắt đầu từ năm 2009 trở đi Trung Quốc sẽ phát triển khu công nghiệp công nghệ cao. Đó là các công nghệ được ứng dụng tiên tiến và mới nhất; công nghệ được ghép nối trong một qui trình liên tục khép kín; công nghệ có khả năng ứng dụng trong điều kiện cụ thể và có thể nhân rộng; mô hình phải đạt hiệu quả về kinh tế và là nơi hợp tác giữa nhà Khoa học – Nhà nước – Doanh nghiệp – Nhà nông trong đó doanh nghiệp đóng vai trò chủ đạo.
          Với chính sách như vậy, Trung Quốc đã làm bùng nổ về phát triển nông nghiệp, nông thôn chuyên sâu theo cách “Nhất thôn, nhất phẩm” (Mỗi thôn có một sản phẩm). Đến nay, Trung Quốc đã có 154.842 doanh nghiệp kinh doanh nông nghiệp kéo theo sự phát triển của 90.980.000 hộ sản xuất trên 1.300.000.000 mẫu diện tích trồng cây các loại ; 95.700.000 mẫu chăn nuôi thủy, hải sản. Trước mắt lục địa Trung Quốc này đã xây dựng 4.139 khu công nghiệp tiêu chuẩn hóa cấp tình và quốc gia.
          Thứ ba, bài học “Tam nông” trong xây dựng nông thôn mới ở Trung Quốc với tiêu chí “hai mở, một điều chỉnh” đó là: mở cửa giá thu mua, mở cửa thị trường mua bán lương thực và một điều chỉnh là chuyển từ trợ cấp gián tiếp qua lưu thông thành trở thành trợ cấp trực tiếp cho nông dân trồng lương thực. Để thực hiện được tiêu chí trên thì chính phủ Trung Quốc đã mạnh tay hỗ trợ tài chính tam nông với ba mục tiêu: “Nông nghiệp gia tăng sản xuất, nông nghiệp phát triển và nông dân tăng thu nhập.” Định hướng hổ trợ tài chính cho Tam nông ở Trung Quốc hiện nay là: “Nông nghiệp hiện đại, nông thôn đô thị hóa, nông dân chuyên nghiệp hóa”.
          Trong chính sách tài chính tăng thu nhập cho nông dân, trung Quốc đa tăng đầu tư hỗ trợ về giá thu mua giống, hỗ trợ mua lương thực không thấp hơn giá thị trường, mua máy móc thiết bị là vấn đề đi cùng với chính sách xây dựng cơ chế hướng nghiệp. Đào tạo kỹ năng làm việc, đặc biệt là lao động trẻ.
          Hiện nay chính sách Tam nông ở Trung Quốc đã đạt hiệu quả khá tốt, năm 2009 thu nhập bình quân của dân cư nông thôn đạt 8.000 tệ/năm tăng 8,5% so với 2008. Năm 2009 Trung Quốc đã làm 300.000 km đường bộ nông thôn, hổ trợ 46 triệu người nghèo đảm bảo đời sống tối thiếu triển khai 320 huyện thực hiện thí điểm bảo hiểm dưỡng lão xã hội ở nông thôn.
          Chính sách tam nông ở Trung Quốc cũng gắn với chủ trương hạn chế tới đa việc lấy đất nông nghiệp. Vấn đề thu hồi đất nông nghiệp ở nước này được qui định rất chặc chẽ. Chuyển đổi quyền sử dụng đất đai phải đúng với chiến lược lâu dài của vùng và nằm trong chỉ giới nhất định bảo đảm Trung Quốc luôn có 1,87 tỷ mẫu đất trở lên. Mặt khác, những khoản tiền thu được từ phát triển công nghiệp do lấy đất công nghiệp phải được chuyển về chính quyền nông thôn, xã để lo cho phát triển đời sống KT-XH của nhân dân.
            Thư tư, Trung Quốc thực hiện chính sách nông thôn mới là khuyến nông và tăng quyền cho nông dân. Nội dung cốt lõi của chính sách này là nông dân được trao đổi, sang nhượng không hạn chế quyền sử dụng đất nông nghiệp mà họ đang được hưởng cho nông dân khác hoặc cho doanh nghiệp miễn là không chuyển đổi mục đích sử dụng. Nông dân cũng sẽ được thế chấp, cầm cố quyền sử dụng đất để vay vốn ngân hàng hoặc góp vốn vào công ty nông nghiệp. Việc nông dân được phép bán đất đã tạo điều kiện cho sự ra đời của các nông trại qui mô lớn với công nghệ canh tác.
 
              3/ BÀI HỌC KINH NGHIỆM ĐỐI VỚI XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN Ở VIỆT NAM.
          Từ thực tế khảo cứu sự hỗ trợ ở Thái Lan và Trung Quốc bước đầu chúng ta có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm sau đây:
 
         Bài học qui hoạch và quản lý sử dụng, tích tụ đất nông nghiệp ở Việt Nam hiện nay:
         - Đất đai là tiềm lực sản xuất cơ bản không thể thay thế nông nghiệp. Khoảng 10 năm trước đây khâu đột phá trọng yếu là giao quyền sử dụng ruộng đất ổn định cho nông dân và thực tế cho thấy chủ quyền sử dụng những thửa ruộng nhỏ bé, manh mún của của nông dân là loại chủ quyền mong manh yếu ớt trước cơn bão thị trường và hội nhập. Do vậy, công tác qui hoạch quản lý sử dụng đất nông nghiệp đang nổi lên vấn đề bức xúc, nan giải là người nông dân vùng đô thị hóa mất đất canh tác, nẩy sinh vấn đề khiếu kiện về đất đai gây yếu tố bất ổn định. Do vậy, bài học Trung Quốc có thể vận dụng cho Việt Nam là: hạn chế tối đa lấy đất nông nghiệp trồng lúa cho mục đích công nghiệp, và nên ban hành mức thuế đánh mạnh vào chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp, nhằm ngăn chặn việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp nhằm ngăn chặn việc nông dân mất đất do đô thị hóa tạo nên. Mặt khác, cũng cần ban hành chính sách và giám sát thật chặt chẽ việc qui hoạch sử dụng đất đai nông nghiệp trên cả nước và từng địa phương một cách có căn cứ, ổn định, lâu dài công tác qui hoạch, quản lý, sử dụng đất nông nghiệp để bảo vệ nông dân. Phải có căn cứ khoa học và thúc tiến, có quan điển khách quan, toàn diện, lịch sử, cụ thể và tầm nhìn xa về xây dựng và phát triển nông thôn. Kiên quyết giữ các vùng đất tốt chuyên canh ở đồng bằng, sông Cửu Long ở mức 2,5 triệu ha, đồng bằng sông Hồng 0,8 triệu ha, qui hoạch từng vùng, từng địa phương và phải bảo vệ từng vùng đất này cho tốt.
          Khi cần thu hồi đất của nông dân phải đền bù thỏa đáng, thật thấu đáo và bố trí công ăn việc làm thích hợp cho người nông dân. Phần lợi nhuận thu từ đất thu hồi trích theo tỷ lệ nộp lại cho địa phương sử dụng cho mục đích công cộng và xã hội.
          Để mở rộng qui mô sản xuất nông nghiệp, chúng ta cũng cần tạo điều kiện cho quá trình tích tụ ruộng đất, nên nới rộng hạn điền và thời gian giao quyền sử dụng đất từ 50 đến 100 năm để người dân an tâm đầu tư lâu dài. Trong trường hợp người dân chuyển sang các ngành nghề khác thì nhà nước đứng mua và cho thuê nhằm bảo đảm diện tích đất nông nghiệp, thúc đẩy tích tụ đất ruộng ở nông thôn.
 
             Bài học thứ hai, hỗ trợ tích cực cho nông dân bằng việc chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp, nông thôn:
           Nông nghiệp Việt Nam vừa qua có một bước tiến bộ như tăng trưởng về diện tích, qui mô, sản lượng, .v..v… thậm chí nhiều nông dân đã làm ra các nông sản xuất khẩu sang thị trường các nước nhưng về cơ bản thì các cơ cấu nông nghiệp Việt Nam vẫn chưa đổi về chất, nông dân ta vẫn xuất khẩu dưới dạng thô hoặc sơ chế, hàm lượng dinh dưỡng thấp, giá trị hàng hóa vẫn còn bị thua thiệt. Do vậy, bài học là tới đây chúng ta cần phải chuyển dịch cơ cấu theo hướng nông nghiệp công nghệ cao, giá trị cao, cần phải chú trọng đầu tư nghiên cứu và khuyến khích chuyền giao sử dụng các kết quả khoa học công nghệ trong nông nghiệp, nhất là công nghệ sinh học (Thái Lan làm rất tốt hướng hỗ trợ này).
           Chúng ta đang đề ra nhiệm vụ công nghiệp hóa hiện đại hóa nông thôn, quá trình ấy không chỉ là áp dụng những tiến bộ của công nghệ thông tin, tự động hóa vào chăn nuôi và trồng trọt,.v..v… mà còn là phải thay đổi các qui trình và công nghệ, qui luật sinh học, tạo ra các cây công nghiệp ngắn ngày, cho năng xuất cao, chất lượng cao có khả năng chống chịu thời tiết khắc nghiệt và có sức kháng bệnh tốt. Có như thế chúng ta mới có một nền nông nghiệp cao và cùng đồng nghĩa chất lượng sản xuất và đời sống nông dân ở bậc cao, phát triển bền vững.
           Để thực hiện bài học này thì chính phủ, bộ và các ngành có liên quan phải hổ trợ nông dân cách sử dụng công nghệ sinh học từ những nguyên liệu sẵn có như mía, sắn, ngô, khoai dùng cho công nghệ sinh học, thậm chí là các chất tưởng như bỏ đi cũng có thể dùng vi sinh vật tạo ra năng lượng rơm, rạ, lau sậy, mùn cưa, .v..v...
          Trước mắt chúng ta cần tập trung nghiên cứu chọn lọc và hoàn thiện bộ giống chuẩn quốc gia về các cây lượng thực chủ yếu như lúa cao sản, ngắn ngày, các giống cây ăn trái Nam bộ, chè, cao su, càfê và thủy hải sản thế mạnh của Việt Nam. Ở đây chính phủ có trách nhiệm chuẩn bị tốt tri thức nhiều mặt để nông dân bắt kịp với nền nông nghiệp hiện đại.
 
             Bài học thứ ba, Chính phủ phải có bước đột phá về thị trường và nâng cao sức cạnh tranh của hàng hóa nông sản, hoàn thiện thể chế lưu thông, nhất là lưu thông hàng nông sản: lúa gạo, cá, tôm:
           Việc gia nhập WTO là thách thức lớn nhất với nông dân và hàng hóa nông sản Việt Nam. Ở đây, phương thức canh tác nông nghiệp còn lạc hậu, năng xuất thấp và chi phí cao, chất lượng và qui cách sản phẩm không đồng đều, .v..v… đang là khó khăn cho việc cạnh tranh của hàng nông sản Việt Nam. Để khắc phục tình trạng trên Việt Nam cần có bước đột phá thị trường để xa thương  hiệu, quảng bá sản phẩm, chiếm lĩnh thị phần ở thị trường EU, Úc, Nhật, Hoa Kỳ, .v..v… Trách nhiệm này không thề phó thác cho nông dân hay một doanh nghiệp cụ thế nào mà đó phải là trách nhiệm của chính phủ và các bộ  chuyên nghành, các cơ quan hoạch định chiến lược quốc gia cùng chung tay phối hợp thực hiện thì mới đem lại hiệu quả được.
           Cú sốc giá lúa gạo vừa qua đã cho ta thấy hệ thống các thể chế điều hành vĩ mô và điều hành thể chế thương mại cần thiết của chúng ta còn rất yếu và thiếu, chưa bắt kịp yêu cầu hội nhập thị trường hiện đại. Chính sách và phản ứng còn thiếu nhạy bén và thiếu chính xác từ chính phủ đã gây tổn thất nặng nề cho nông dân. Đây là bài học xót xa để hỗ trợ nông dân của Việt Nam, chúng ta đã chậm chạp và lạc hậu trước diễn biến của thị trường. Không điều hành thống nhất được kênh thu mua phân phối thâm chí bỏ trống cho tư thương lũng đoạn, tùy tiện gây bất lợi cho nông dân là người sản xuất, họ là “gốc” nhưng luôn phải chịu thiệt thòi và rủi ro. Điều đáng chú ý hiện nay là đầu cơ, lạm phát và chỉ số CPI tăng cao trong thời gian qua đã và đang tác động mạnh đến các hộ nông dân nghèo, thu nhập thấp, họ chịu thiệt thòi nhất bởi nhóm hàng lương thực, thực phẩm tăng khá cao chiếm tới 70% cơ cấu tiêu dùng của các hộ nông dân nghèo. Mặt khác, tăng giá bình quân đầu vào của các vật tư sản xuất nông nghiệp cao hơn đầu ra của sản phẩm nông sản từ 20 đần 25% đang đặt ra bài toán cho chính sách hỗ trợ nông dân hiện nay như thế nào?
           Chúng tôi xin kiến nghị biện pháp kiện toàn tổ chức và thể chế cơ bản để đẩy mạnh lưu thông hàng hóa như sau:
                   a/ Nông dân trồng lúa.
                         b/ Các kênh đại lý thu mua lúa gạo.    
                   c/ Hợp tác xã hay hiệp hội nhiều người sản xuất lúa.
                   d/ Nhà nước và cơ quan quản lý điều hành xuất khẩu.
           Các chủ thể này tương tác và chế ước lẫn nhau trong đó nhà nước đóng vai trò trung tâm (đề ra luật chơi và điều hành, kiểm tra, giám sát) chúng ta nên chuyển từ điều tiết hạn ngạch sang hình thức xuất nhập khẩu thì sẽ có lợi cho nông dân nhiều hơn.
 
              Bài học thứ tư, cần có biện pháp hỗ trợ có hiệu quả cho nông dân:
            Như đã phân tích trên, trong cơ chế thị trường nông dân luôn là người chịu thiệt và yếu thế vì sự cạnh tranh khóc liệt làm họ cho yếu dần đi. Bản thân sự sản xuất của họ lại luôn hàm chứa rủi ro vì biến động giá cả và thời tiết, việc đầu tư cho nông nghiệp mang lại lợi nhuận thấp ít hấp dẫn các nhà đầu tư nhưng sản xuất nông nghiệp và sản phẩm của nông dân lại là bắt buộc và không thể thiếu đối với xã hội. Ở các nước nông nghiệp phát triển người ta rất quan tâm và có điều kiện tài chính để trợ cấp, bảo hộ rất mạnh cho nông nghiệp. Sự thật các nước này luôn dưng lên một hàng rào bảo hộ ở mức cao gây khó khăn cho hàng nông sản của chúng ta thâm nhập vào thị trường các nước.
             Còn ở nước ta, vừa nghèo chưa đủ điều kiện lại vừa chưa nhận thức đúng điều này nên sự hỗ trợ cho nông nghiệp và nông dân bị xem nhẹ. Việc gia nhập WTO đang dự báo nông nghiệp và nông dân ta sẽ phải chịu nhiều tác động do năng lực cạnh tranh và trình độ sản xuất thấp như đã phân tích trên và do vậy, hỗ trợ có hiệu quả cho nông dân là một thực tế đặt ra và cũng là bài học rúi kinh nghiệm từ các nước. Tới đây chúng ta nên chú trọng mấy vấn đề xung quanh bài học này như sau:
             + Phải hỗ trợ đúng nguyên tắc của WTO, WTO cho phép trợ cấp nông nghiệp (trừ trợ cấp xuất khẩu) đến 10% GPD của ngành. Do vậy, chúng ta có thể dành 1,2 tỷ USD + 20.000 tỷ VNĐ (từ ngân sách) để hỗ trợ cho nông dân. Nên chú ý là WTO chỉ cấm hỗ trợ bóp méo giá cả thị trường hoặc hàng hóa xuất khẩu gây tổn hại cho xuất khẩu của nước nhập mà thôi.
             +Nên tập trung hỗ trợ phát triển hạ tầng kỹ thuật thủy sản và mở mang giao thông nông thôn, đào tạo và nâng cao dân trí, chuyển dịch lao động nông thôn, chuyển giao nâng cao ứng dụng khoa học công nghệ hỗ trợ cho vùng khó khăn, chi trả trực tiếp cho người sản xuất, trợ cấp chi phí tiếp thị và vận chuyển trong và ngoài nước.
             +Hỗ trợ để thu hẹp khoảng cách thu nhập và mức sống giữa nông thông và thành thị thông qua các chương trình lớn của chính phủ như chương trình 35, 135, 134, .v..v…
             +Nên nhận thức rằng hỗ trợ của nhà nước phải là chất xúc tác để phát huy hiệu quả của các thành phần kinh tế vào nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Hiện nay nông dân Việt Nam chiếm đa số trong dân cư nhưng đầu tư vào nông nghiệp chỉ chiếm 14% tổng đầu tư ngân sách là chưa hợp lý. Nên cải tiến tỷ lệ đầu tư đạt gấp đôi hiện nay thì sẽ rất có ý nghĩa.
             Tất cả các quốc gia có thế mạnh nông nghiệp trên thế giới hiện nay đều đã và đang thực thi các chính sách hỗ trợ nông nghiệp nông thôn một cách tích cực. Đó là các chính sách trợ giá cho nông dân sản xuất các mặt hàng nông sản chủ yếu; chính sách công nghiệp nông thôn; chính sách mở cửa thị trường để thu hút đầu tư mạnh cùa nước ngoài cho nông nghiệp của Thái Lan. Đó cũng là chính sách nhanh chóng giảm thuế, miễn thuế để thu hút vốn đầu tư vào nông nghiệp; là chính sách Tam nông trong xây dựng nông thôn mới với tiêu chí “Hai mở, một điều chỉnh” nhằm đạt các mục tiêu “Nông nghiệp gia tăng sản xuất, nông thôn phát triển, nông dân tăng thu nhập”; là chính sách gắn khuyến nông tăng quyền cho nông dân và mở hướng phát triển ra nước ngoài ở Trung Quốc. Tất cả các chính sách ấy đều có thể tham khảo vận dụng tốt ở Việt Nam./.

Nguồn tin: www.hoavang.danang.gov.vn

Những tin mới hơn

 

APEC VIỆT NAM 2017

Hình ảnh hoạt động

ỦY BAN NHÂN DÂN XÃ HÒA PHÚ
Địa chỉ: Thôn Đông Lâm, xã Hòa Phú, huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng
Email: ubndxahoaphu@danang.gov.vn
ĐT: 0236 3846470
Tổ kỹ thuật: Văn phòng UBND